Trang chủ | Giới thiệu | Qui định thông tin | Download | Diễn đàn | Liên hệ
Thứ tư - 08.09.2010 Viet Nam English Japanese China China

Danh mục

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá vàng

Dự báo thời tiết

Hỗ trợ trực tuyến

holdingfx
holdingfx
Live Help Support by ZaZaChat

Quảng cáo

Lượt truy cập

Kiểm toán độc lập

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam
[05/02/2009 13:28:01]
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam  "

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nhu cầu tất yếu của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam trong suốt quá trình hình thành và phát triển. Trong 15 năm qua, ngành kiểm toán độc lập của Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng đã có những bước tiến bộ vượt bậc. Qua thực tiễn hoạt động, các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường dịch vụ kiểm toán và tư vấn trong nước.

Tuy nhiên, việc hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi cao hơn đối với năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam. Theo đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa sống còn, giúp các công ty kiểm toán Việt Nam có thể tồn tại và phát triển ngay trên "sân nhà" và từng bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới.

Bài viết dưới đây bàn về năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO dưới góc nhìn của thành viên Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam. Một số giải pháp liên quan được trình bày lồng ghép trong bài hướng tới các công ty kiểm toán, Nhà nước và hội nghề nghiệp.

Một cách chung nhất, năng lực cạnh tranh của DN thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn. Theo đó, năng lực cạnh tranh của DN  trước hết phải được tạo ra từ những yếu tốt nội tại của DN. Những yếu tốt nội tại của mỗi DN không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN…một cách riêng biệt mà cần được xem xét trong mối tương quan với các đối tác cạnh tranh trên cùng một lĩnh vực cùng một thị trường. Bên cạnh đó, những yếu tố bên ngoài như môi trường pháp lý, cơ chế chính sách của từng quốc gia…cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của DN tại quốc gia đó trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một DN, cần phải xác định được các yếu tố nội tại bên trong và các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của DN. Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, các yếu tố nội tại chủ yếu được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một công ty kiểm toán bao gồm: chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp; nguồn nhân lực; khả năng phát triển thị trường; thương hiệu, uy tín của DN; năng lực tài chính và công nghệ kiểm toán; năng lực tổ chức và quản trị DN.

- Chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp:

Chất lượng dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác ngày càng được nâng cao do nhiều yếu tố chủ quan bên trong DN và các yếu tố khách quan bên ngoài. Mặc dù ngành kiểm toán độc lập trong thời gian qua có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng các công ty kiểm toán độc lập, tuy nhiên các công ty đều nhận thức rõ chất lượng dịch vụ cung cấp là yếu tố hàng đầu thể hiện năng lực cạnh tranh và quyết định sự sống còn của DN. Theo đó, các công ty kiểm toán độc lập đều thực hiện việc kiểm soát chất lượng kiểm toán trên các cấp độ khác nhau trong quy trình kiểm toán. Bên cạnh đó, việc ban hành khá đầy đủ và đồng bộ các văn bản pháp luật liên quan cũng như sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa Bộ Tài chính và Hội kiểm toán viên hành nghề trong hoạt động quản lý kiểm toán đã có tác động tích cực đến chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán độc lập cung cấp. Tuy nhiên, việc chậm trễ ban hành Quy chế kiểm soát chất lượng hành nghề kế toán, kiểm toán cũng gây khó khăn cho cơ quan chức năng và hội nghề nghiệp trong quản lý chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán.

Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và thị trường dịch vụ, các dịch vụ do các công ty kiểm toán cung cấp không ngừng được đa dạng hoá với các nhóm dịch vụ như: dịch vụ kiểm toán (kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB), dịch vụ phi kiểm toán (dịch vụ kế toán, dịch vụ đào tạo bồi dưỡng kiến thức; tư vấn quản lý, tài chính, thuế; tư vấn đầu tư, luật)

Trong những năm gần đây, một số công ty kiểm toán đã cung cấp thêm một số loại dịch vụ mới: kiểm toán và định giá; dịch vụ soát xét BCTC; tư vấn tái cấu trúc DN; xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ; tư vấn sát nhập và giải thể DN…Tuy nhiên, khả năng cung ứng và tỷ trọng doanh thu của các loại dịch vụ này còn ở mức khiêm tốn.

BẢNG 1: Tình hình Doanh thu (cơ cấu theo loại dịch vụ)

                                                                   Đơn vị tính: Triệu đồng

Chỉ tiêu

Năm 2005

Năm 2004

Số tiền

Tỷ lệ %

Số tiền

Tỷ lệ %

Tổng Doanh thu

622.255

100

461.699

100

Trong đó:

 

 

 

 

1. Kiểm toán báo cáo tài chính

353.879

57

264.767

57

2. Kiểm toán báo cáo QTVĐT hoàn thành

32.782

5

24.421

5

3. Tư vấn tài chính, thuế, kế toán

146.976

24

105.387

23

4. Dịch vụ tư vấn nguồn nhân lực, tư vấn quản lý, định giá tài sản

71.701

12

52.509

11

5. Bồi dưỡng tài chính, kế toán, kiểm toán

4.590

0,7

3.519

0.7

6. Dịch vụ liên quan khác

12.327

1,3

11.096

3,3

Theo số liệu trong bảng trên, doanh thu từ hoạt động kiểm toán chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 62%), doanh thu từ các dịch vụ phi kiểm toán còn quá thấp (khoảng 38%) so với các nước phát triển (tại các nước phát triển tỷ lệ doanh thu từ các dịch vụ phi kiểm toán lên tới 90%). Như vậy, khả năng cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán và các dịch vụ gia tăng khác còn ở mức hết sức khiêm tốn.

Như vậy, để tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập, các DN kiểm toán Việt Nam phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình thông qua việc đa dạng hoá các loại hình dịch vụ cung cấp. Chúng tôi cho rằng áp dụng chiến lược cạnh tranh bằng sự khác biệt, có tính sáng tạo và mang lại giá trị mới tăng thêm cho người tiêu dùng sẽ phù hợp hơn chiến lược giành lợi thế cạnh tranh bằng việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp trong thời đại hội nhập. Nhờ lợi thế này, DN có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh đến từ các nước trên thế giới.

- Nguồn nhân lực.
 
Có thể nói nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty kiểm toán. Sau 15 năm hoạt động, đội ngũ KTV người Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhiều KTV có kiến thức và chứng chỉ của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA Australia…(bảng 2)

BẢNG 2: Tình hình nhân viên

Chỉ tiêu

Năm 2005

Năm 2004

Số người

Tỷ lệ %

Số người

Tỷ lệ %

I. Tổng số nhân viên đến 31/12/2005

3.897

100

3.124

100

Trong đó

 

 

 

 

1. Nhân viên chuyên nghiệp

3.091

79

2.468

79

Trong đó:

 

 

 

 

1.1. Số người có chứng chỉ kiểm toán viên

870

28

664

27

Trong đó:

 

 

 

 

1.1.1. Số người vừa có chứng chỉ KTV Việt Nam, vừa có chứng chỉ KTV nước ngoài:

57

7

40

6

- Người Việt Nam

40

70

26

65

- Người nước ngoài

17

30

14

35

1.1.2. Số người chỉ có Chứng chỉ KTV Việt Nam:

749

88

579

90

- Người Việt Nam

710

98

582

97

- Người nứơc ngoài

9

2

15

3

1.1.3. Số người chỉ có chứng chỉ KTV nước ngoài:

34

5

27

4

- Người Việt Nam

16

47

15

55

- Người nước ngoài

18

53

12

45

1.2 Số người chưa có chứng chỉ KTV

2.221

72

1.804

73

2. Nhân viên khác:

806

21

656

21

Nguồn VACPA

Theo bảng trên, đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp mặc dù tăng nhanh nhưng chiếm tỷ trọng chưa cao so với tổng số nhân viên chuyên nghiệp. Tỷ lệ KTV Việt Nam có chứng chỉ quốc tế còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Ngoài ra, vấn đề chảy máu chất xám từ ngành kiểm toán sang các ngành khác có liên quan khi các công ty, văn phòng đại diện nước ngoài vào Việt Nam ngày một nhiều trong thời gian tới là vấn đề cần được tính tới trong chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn lực kiểm toán.

- Khả năng phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu của các công ty kiểm toán.

Dưới tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan, đối tượng khách hàng ngày càng phát triển và đa dạng hoá. Đối tượng khách hàng (bắt buộc và tự nguyện) của các công ty kiểm toán bao gồm DN có vốn ĐTNN, DN nhà nước, các tổ chức ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, công ty niêm yết, các dự án quốc tế, một số đơn vị hành chính sự nghiệp và các loại hình DN khác. Trong một số năm gần đây, khi cơ quan thuế thí điểm cho DN tự kê khai, tự nộp quyết toán thuế hằng năm và từ sau khi Nghị định 105/2004/NĐ-Chính phủ ra đời thì thị trường kiểm toán đã mở rộng đáng kể với quy định tất cả các DN nhà nước bắt buộc phải kiểm toán. (bảng 3)

BẢNG 3: Doanh thu (cơ cấu theo đối tượng khách hàng)

 

 

Năm 2005

Năm 2004

Đối tượng Khách hàng

Số lượng KH

Số tiền

Tỷ lệ %

Số lượng KH

Số tiền

Tỷ lệ %

1. DN có vốn đầu tư nước ngoài

5.640

366.967,565

60

4.302

304.454,69

66

2. Công ty TNHH, Công ty cổ phần, DN tư nhân, HTX

2.198

63.178,034

10

1.354

30.421,490

6

3. DN Nhà nước

2.653

125.826,470

20

1.940

85.657,977

18

4. Đơn vị HCSN, tổ chức đoàn thể xã hội

686

8.523,634

1

738

7.355,647

1

5. Tổ chức, dự án quốc tế

341

49.929,656

9

233

31.252,386

9

Tổng cộng

11.518

 

100

8.567

 

100

Nguồn: Tổng cục Thuế

Theo số liệu trong bảng trên, khả năng phát triển thị trường của các công ty kiểm toán còn hạn chế, khách hàng kiểm toán vẫn chủ yếu là khách hàng bắt buộc kiểm toán theo quy định của pháp luật.

Về khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường: Có thể nói, DN nước ta chưa coi trọng việc xây dựng thương hiệu, quảng bá dịch vụ cung cấp và nghiên cứu thị trường chiến lược. Việc tiếp thị dịch vụ ra thị trường khu vực và quốc tế còn hạn chế. Các DN kiểm toán Việt Nam chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường nước ngoài, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế còn non yếu. Hiểu biết về hệ thống luật pháp quốc tế còn thiếu để xuất khẩu dịch vụ kiểm toán và tư vấn ra bên ngoài. Đây là vấn đề lớn đặt ra trước hội nghề nghiệp và các DN kiểm toán Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và cạnh tranh khốc liệt khi các cam kết bắt đầu có hiệu lực.

- Năng lực tài chính và công nghệ kiểm toán:
 
Hầu hết các DN kiểm toán Việt Nam hiện nay là các DN nhỏ và vừa. Mức vốn bình quân của những DN lớn nhất cũng chỉ trên dưới 10 tỷ đồng. Mặc dù tiềm lực tài chính không phải yếu tố tiên quyết cho hoạt động cung cấp dịch vụ nhưng lại có ảnh hưởng đến việc đầu tư vào nguồn nhân lực qua đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ phục vụ kiểm toán, mở thêm chi nhánh…

Về công nghệ tổ chức và quản lý kiểm toán: Một số năm trở lại đây, một số DN đã quan tâm tới việc gia nhập để trở thành thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế với việc tiếp thu các công nghệ quản lý và kiểm toán tiên tiến từ các nước phát triển. Tuy nhiên, ở đa số các DN khác, việc đầu tư nâng cao chất lượng quy trình, công nghệ kiểm toán còn chậm, chưa đồng đều. (bảng 4)

BẢNG 4: 11 công ty là thành viên của các hãng Kiểm toán quốc tế

TT

Công ty

Hãng kiểm toán quốc tế

1

Công ty Kiểm toán Việt Nam TNHH (VACO)

Deloitte Touche Tohmatsu

2

Công ty Dịch vụ Tư vấn TCKT và Kiểm toán (AASC)

INPACT International

3

Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học (AISC)

INPACT Asia Pacific

4

Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn (A&C)

HLB International

5

Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn TCKT (AFC)

BDO International

6

Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kiểm toán Thuỷ Chung

Morison International

7

Công ty TNHH Kiểm toán M&H

Heffrey Henry International

8

Công ty TNHH Quản trị Tiên Phong

ASNAF

9

Công ty TNHH Kiểm toán DTL

Horwarth International

10

Công ty TNHH Kiểm toán U&I

Baker Tilly International

11

Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn STT

RSM International

 Nguồn VACPA

- Năng lực tổ chức và quản trị DN:

Đến 30/6/2006 đã có hơn 100 công ty kiểm toán lớn, nhỏ thuộc nhiều quy mô và loại hình hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam với hàng trăm văn phòng và chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trên cả nước. Trong số đó đã có 11 công ty kiểm toán là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế. Trong sự phát triển vượt bậc về số lượng công ty kiểm toán đã hình thành một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, đáp ứng được yêu cầu quản lý, điều hành hiện tại. Trong đó, nhiều DN kiểm toán đã áp dụng các mô hình quản lý tiên tiến nhằm tinh giản biên chế gián tiếp, tiết kiệm các chi phí phát sinh trong quản lý điều hành…Tuy nhiên các DN kiểm toán Việt Nam chủ yếu là các DN nhỏ và vừa nên khả năng áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến còn hạn chế.

Bên cạnh những yếu tố nội tại trong các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam, có thể kể đến những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam: môi trường pháp lý, chính sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập, sự ra đời của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam.

Trong thời gian qua, Quốc hội và các cán bộ, ngành đã ban hành và hoàn thiện một cách căn bản hệ thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán. Luật Kế toán, các Nghị định về kiểm toán độc lập, hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán… đã hình thành hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, đồng thời tạo tiền đề cần thiết cho hội nhập khu vực và quốc tế trong lĩnh vực kiểm toán.

Chính sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập đã được Chính phủ  chỉ đạo nhất quán với lộ trình cụ thể. Nhờ đó, kiểm toán độc lập ở Việt Nam sớm trở thành một nghề nghiệp quan trọng và phát triển nhanh, vững chắc trong những năm gần đây. Sự hỗ trợ của Chính phủ, Bộ Tài chính thể hiện trong việc ban hành các văn bản pháp quy cho hoạt động kiểm toán, phát triển thị trường kiểm toán và định hướng cho các cơ quan Nhà nước sử dụng kết quả kiểm toán như một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý.

Ngày 15/4/2005, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) được thành lập, tạo ra môi trường để các KTV cùng nhau hợp tác, đào tạo, cập nhật chuyên môn, kiểm soát chất lượng dịch vụ, đạo đức nghề nghiệp, trao đổi kinh nghiệm, qua đó tăng cường khả năng cạnh tranh cho các DN kiểm toán Việt Nam khi hội nhập khu vực và quốc tế.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam (liên quan đến nhóm các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài), chúng tôi cho rằng trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về kế toán, kiểm toán và đẩy mạnh vai trò của hội nghề nghiệp trong việc đào tạo, bồi dưỡng cho KTV và tăng cường kiểm soát chất lượng hành nghề kiểm toán. Những công việc trước mắt và lâu dài về hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan bao gồm: hoàn thiện nội dung của các chuẩn mực kế toán kiểm toán đã ban hành: ban hành và hướng dẫn "Quy chế kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán" áp dụng cho các DN cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán và các nhân hành nghề kế toán nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kinh doanh kiểm toán được coi là nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới; Việc nghiên cứu soạn thảo và ban hành Luật kiểm toán độc lập sẽ có tác động tích cực đến các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam, nâng cao tính cạnh tranh trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế. Bên cạnh đó, việc liên kết, tổ chức lại các công ty kiểm toán nhỏ sẽ trở thành xu hướng tích cực nhằm tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản trị và điều hành cũng như chuẩn hoá quy trình, công nghệ kiểm toán (cải thiện các yếu tố nội tại trong DN)

Tóm lại, năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam được đánh giá bởi các yếu tố nội tại bên trong các công ty và các yếu tố tác động bên ngoài các công ty đó. Với những số liệu phân tích nêu trên, có thể tháy rằng năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam còn hết sức khiêm tốn so với các hãng kiểm toán quốc tế trong bối cảnh hội nhập về dịch vụ toàn cầu. Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DN kiểm toán, Bộ Tài chính, hội nghề nghiệp và các công ty kiểm toán Việt Nam cần thực hiện các giải pháp đồng bộ với lộ trình thực hiện cụ thêểcho những giải pháp mang tính cấp bách và lâu dài.

Ngô Trí Tuệ(Tapchiketoan.com)

GS-Audit